Apollo và Dionysus: Hai phạm trù đối lập theo triết học phương Tây
Bức tranh của Leonid Ilyukhin miêu tả hai phạm trù đối lập trong văn học nghệ thuật cũng như hai khái niệm phân cực của con người theo triết học phương Tây, đại diện bởi hai vị thần Hy Lạp Apollo và Dionysus (mặc dù người Hy Lạp cổ không xem hai vị này là hai mặt đối lập hay đối thủ của nhau).
Khái niệm này được triết gia Friedrich Nietzsche đề cập lần đầu vào năm 1872 trong tác phẩm "Sự Ra đời của Bi kịch từ Tinh thần Âm nhạc" ('The Birth of Tragedy Out of the Spirit of Music').
Nhưng đầu tiên, hãy tìm hiểu về hai thần thể Apollo và Dionysus.
Cả hai đều là các vị thần con trai thần vương Zeus.
Apollonian (tinh thần Apollo hay thanh niên nghiêm túc): Apollo - con trai nữ thần Leto - là thần mặt trời, âm nhạc, nghệ thuật, suy nghĩ logic, trật tự và hợp lý, thận trọng. Apollo đại diện cho hình thức nghệ thuật bài bản, có cấu trúc, thể hiện sự điềm tĩnh, coi trọng lý trí. Trong hình, thần Apollo tóc vàng óng ngồi trên cao mặc áo vàng, mang đàn lyre, bao quanh là các nàng thơ Muses đại diện cho nghệ thuật và khoa học đang nhìn về phe Dionysus bằng ánh mắt cao ngạo lẫn khinh thường.
Dionysian (tinh thần Dionysus hay thanh niên bốc đồng): Dionysus - con trai công chúa phàm trần Semele - là thần rượu nho và hoan lạc, đại diện cho sự nổi loạn, phóng túng, hưởng thụ. Dionysus đại diện cho hình thức nghệ thuật mang tính cảm xúc, phóng khoáng, bốc đồng và bản năng. Trong hình, thần Dionysus lãng tử quấn da báo làm áo, đầu đội vòng lá nho, tay cầm sừng rượu, cùng môn đệ của mình là satyr và các nàng maenad ngược lại đang chế giễu sự mô phạm và cứng nhắc của phe Apollo.
Trong hình, hai bên đều có từng cặp nhân vật đối lập nhau: các nàng Muse đối đầu với các Satyr và Maenad.

Người đàn ông mặc áo choàng đỏ đứng giữa đại diện cho con người, đang phân vân không biết nên chọn theo thái cực nào cho cuộc sống. Điều đó biểu thị rằng con người chúng ta thường bị giằng co giữa cảm xúc và lý trí, giữa sự mô phạm, máy móc và sự nổi loạn, bốc đồng.
Triết học Nietzsche và tinh thần Apollo-Dionysus
Mặc dù hai hình tượng này đối lập nhau, nhưng Nietzsche tin rằng có một sự giao thoa giữa hai hình tượng để tạo thành một loại hình nghệ thuật đặc biệt, được thể hiện rõ nhất qua các bi kịch Hy Lạp của Aeschylus và Sophocles.
Nietzsche cho rằng sự lạc quan là nhân sinh quan thịnh hành và phổ biến trong văn hóa Hy Lạp cổ đại thời tiền Socrates (là thời đại của Homer). Quan niệm ấy là đặc trưng của tinh thần Apollo, rằng con người, cuộc sống và định mệnh nằm ở trong quyền lực của những thế lực đen tối ('dark forces'). Dù bị chi phối và điều khiển bởi những ác lực như thế nhưng con người Hy Lạp cổ đại, bằng sự lý giải của lý tính vẫn có thể duy trì cuộc sống lạc quan, yêu đời trước những nghịch cảnh đau khổ.
Trước ngưỡng cửa đền thờ Apollo tại Delphi có ghi khắc hai châm ngôn: “Hãy tự biết mình” ('know thyself') và “Không gì quá nhiều” ('nothing too much'). Đây là hai kim chỉ nam trong cuộc sống, cho biết vai trò và bản chất của ta ở thân phận con người so ở vũ trụ trong tương quan với các thần thể bất tử. Tức là đã mang kiếp làm người là phải chấp nhận tính hữu tử của mình; chấp nhận mọi khổ lụy, thử thách, hạn hữu và sự mong manh của kiếp người. Hãy lạc quan, bằng lòng và an phận với mọi gian khổ; phải sống tiết độ; tìm cách trốn tránh chúng chỉ là khổ lực hoài công, nếu không muốn nói là căn nguyên của bi quan và tuyệt vọng.
Theo Nietzsche, nhân sinh quan theo tinh thần Apollo trong thời điểm ấy đã bị gián đoạn do sự lưu nhập của những tư tưởng bi quan xuất phát từ phương Đông. Đó là sự xuất hiện của tinh thần Dionysus, tương phản với bối cảnh lạc quan và tích cực của tâm thức Apollo. Tâm thức Dionysus đã làm náo động và thức tỉnh Apollo bằng cách “lật tẩy” hay “lột mặt nạ” trá hình của thái độ lạc quan, hời hợt và giả tạo trên. Sự thật đó vốn được che đậy bởi lý tính và lập luận: trên thực tế, cuộc đời đầy những nguy hiểm và bạo loạn.
Silenus, tiểu thần của Dionysus, khi bị vua Midas bắt được và gặng hỏi rằng điều tuyệt vời nhất mà con người có thể theo đuổi là gì, đã miễn cưỡng trả lời:
“Hỡi đứa con phù du của thiên tài khó nhọc và của vận mệnh khắc nghiệt kia, tại sao ngươi lại buộc ta phải nói ra điều mà các ngươi đáng lẽ không nên biết?
Sống một cuộc đời quên đi những phiền muộn của chính mình là sự giải thoát khỏi nỗi sầu khổ cùng cực. Nhưng đối với con người, hoàn toàn không thể và không nên có được “điều tuyệt vời nhất” này, hoặc thậm chí nhận được bất kỳ phần nào trong đó (bởi vì điều tuyệt vời nhất cho cả đàn ông và phụ nữ là chưa từng được sinh ra); tuy nhiên, điều tuyệt vời nhất tiếp theo sau điều này, và là điều đầu tiên mà con người có thể chạm đến, dù chỉ là điều tốt nhất thứ hai, đó là sau khi được sinh ra, hãy chết đi càng sớm càng tốt.”
('Ephemeral offspring of a travailing genius and of harsh fortune, why do you force me to speak what it were better for you men not to know?
For a life spent in ignorance of one’s own woes is most free from grief. But for men it is utterly impossible that they should obtain the best thing of all, or even have any share in its nature (for the best thing for all men and women is not to be born); however, the next best thing to this, and the first of those to which man can attain, but nevertheless only the second best, is, after being born, to die as quickly as possible.')
Nietzsche cho rằng người Hy Lạp cổ đại đã khai sinh ra thể loại bi kịch (tragedy) để dung hòa hai khuynh hướng đối cực này. Những vở bi kịch của Sophocles và Aeschylus là sự kết hợp hài hòa giữa hai tinh thần Apollo và Dionysus, sử dụng âm nhạc phối hợp trong vở kịch như một thứ ngôn ngữ phổ quát, trực cảm để chuyển tải cảm xúc thẳng vào tâm hồn con người. Nietzsche cho rằng chính những vở bi kịch này đã cứu thoát dân tộc và văn hoá Hy Lạp khỏi não trạng bi quan, phủ định đời sống của tinh thần Dionysus; phục hưng tinh thần Apollo và thái độ lạc quan, yêu đời trở lại.


