Hera: Tuổi thơ và những Tính ngữ
Theo Thần hệ, Hera là con gái của hai titan Kronus và Rheia. Giống như các anh em khác (trừ Zeus), nàng bị cha nuốt vào bụng khi mới lọt lòng. Sau này khi Zeus chiến thắng cha mình và bắt ông ta nôn hết các anh em ra khỏi bụng thì Hera chào đời lần hai.
Một số nguồn khác như nhà thơ Lactantius cho rằng Hera là chị em sinh đôi cùng Zeus. Hay nhà thơ Apollodorus thì xác định rõ Hestia là chị cả, kế đến là Demeter, còn Hera là gái út.
Câu chuyện về thời thơ ấu của nàng sau khi ra đời lần hai cũng lắm dị bản:
Đa số các phiên bản kể rằng Hera được hai titan là Oceanus và Tethys nuôi dưỡng.
Theo người dân thành bang Argos cổ xưa thì Hera được ba nàng naiad ở Argos tên là Euboea, Prosymna và Acraea nuôi dưỡng.
Theo nhà thơ Olen, Hera được ba nữ thần Horae là Eunomia, Dike, Eirene nuôi dưỡng.
Sử gia Pausanias lại kể rằng dân vùng Arcadia cho là hoàng tử Temenus của họ là người nuôi dưỡng Hera khôn lớn. Thậm chí lúc Hera giận Zeus, nàng còn ly thân chồng về sống với Temenus một thời gian!
TÍNH NGỮ
Aegophagus (goat-eater): Tính ngữ thờ cúng của người Lacedaemonia.
Alexandros (the defender of men): Tính ngữ thờ cúng ở thành phố Sicyon.
Ammonia: Tính ngữ thờ cúng ở thành bang Elis. Những người dân đầu tiên của nơi này đã có phong tục xin lời sấm truyền của Zeus Ammon ở Libya.
Antheia (blooming, the friend of flowers) và Argeia: Tính ngữ thờ cúng ở thành bang Argos, nơi Hera được xem là vị thần bảo trợ.
Boopis: Tính ngữ thường gặp trong thơ của Homer.
Bunaea: Tính ngữ xuất xứ từ Bunus, con trai của thần Hermes và nàng Alcidameia, người đã xây điện thờ Hera trên đường đến Acrocorinthus.
Chera: Tính ngữ do Temenus đặt ra. Con trai của Pelasgus đã xây ba điện thờ tôn vinh Hera ở Old Stymphalus: một là pais thờ Hera khi còn là trinh nữ, hai là teleia thờ Hera khi trở thành hoàng hậu của Zeus và ba là chera thờ Hera khi là quả phụ (ngầm chỉ mối quan hệ của Hera và Zeus sau khi rạn nứt).
Gamelioi: Tính ngữ tôn vinh người bảo trợ và bảo vệ cho hôn nhân gia đình. Sử gia Plutarch cho rằng những người kết hôn cần sự bảo vệ từ năm vị thần Zeus, Hera, Aphrodite, Peitho và Artemis.
Hippia và Hippios: Tính ngữ xuất hiện trong Latin Equester và Equestris.
Hupercheipia: Tính ngữ thờ cúng ở Sparta. Người dân nơi này đã xây dựng điện thờ Hera theo yêu cầu của lời sấm truyền, nhằm giải quyết trận ngập lụt từ sông Eurotas.
Imbrasia: Tính ngữ của cả Hera và Artemis ở thành bang Samos, nơi có sông Imbrasus. Tương truyền đây là nơi nữ thần được sinh ra.
Lakinia: Tính ngữ thờ cúng ở thành phố Croton, nơi Hera sở hữu một điện thờ nổi tiếng giàu có. Cái tên này có nguồn gốc từ mũi đất Lacinia phía đông bờ biển Bruttium, tương truyền là vùng đất nữ thần biển Thetis dâng lên làm quà cho nữ hoàng của các vị thần.
Parthenia (the maiden): Tính ngữ của cả Hera và Artemis, bắt nguồn từ sông Parthenius.
Pelasgis (the Pelasgian): Tính ngữ của Hera và Demeter ở thành bang Thessaly, mang ý nghĩa là "tiền nhân của người Hy Lạp".
Pharngaia: Tính ngữ xuất xứ từ thị trấn Pharygae, nơi đặt chính điện thờ Hera thuộc xứ Locris.
Samia: Tính ngữ thờ cúng ở đảo Samos. Một số dị bản kể rằng Hera được sinh ra hoặc nuôi dưỡng trên đảo Samos.
Zugia và Zugios: Tính ngữ của Hera và Zeus, mô tả cả hai cùng bảo trợ hôn nhân.



